TRANG CHỦTÌM KIẾMSƠ ĐỒ WEBSITELIÊN HỆ
 Thứ sáu, Ngày 26 Tháng 04 Năm 2019  [ENGLISH]
  Đang truy cập: 57  
 
1 4 0 3 9 7 0 8
 
 
Các nghiên cứu khoa học
Đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020

 Đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Vũ Thị Minh Hạnh


1. Mở đầu

Ngày 14/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2013/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” với 01 mục tiêu tổng quát, 11 mục tiêu cụ thể và 07 nhóm giải pháp. Sau 5 năm triển khai thực hiện, các chỉ tiêu về DS, SKSS, KHHGĐ của Việt Nam đã không ngừng được cải thiện. Bên cạnh các kết quả đạt được, chương trình DS, SKSS, KHHGĐ vẫn còn một số hạn chế, bất cập và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như mức sinh đang có sự khác biệt lớn giữa các vùng, miền, các địa phương, tỷ lệ sử dụng các BPTT mặc dù đã đạt được ở mức cao song đang có dấu hiệu chững lại, nguồn lực triển khai hoạt động DS, SKSS, KHHGĐ bị cắt giảm,… đe dọa khả năng thực hiện thành công Chiến lược Dân số, Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Nghiên cứu Đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (đánh giá giữa kỳ) được thực hiện nhằm nhận diện những kết quả đạt được cùng những bất cập và thách thức trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi Chiến lược trong giai đoạn 2016-2020.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2016-2020.

Mục tiêu cụ thể:

1. Đánh giá quá trình triển khai thực hiện và kết quả đạt được của các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 sau 5 năm triển khai.

2. Phân tích những khó khăn, bất cập sau 5 năm triển khai thực hiện Chiến lược, xác định các yếu tố ảnh hưởng và những thách thức trong thời gian tới.

3. Đề xuất về một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2016-2020.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính.

3.2. Đối tượng thu thập thông tin:

Nhóm ban hành Chiến lược: Đại diện Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội; Đại diện các Vụ chức năng của Văn phòng Chính phủ; Đại diện Vụ Các vấn đề xã hội, Ban Tuyên giáo TW.

Nhóm triển khai thực hiện: Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Y tế; Ban Chỉ đạo DS-KHHGĐ tuyến tỉnh/thành phố; Lãnh đạo và chuyên viên: Chi cục Dân số - KHHGĐ, Trung tâm CSSKSS tỉnh/thành phố; Khoa Sản Bệnh viện tỉnh/thành phố; Ban Chỉ đạo DS-KHHGĐ tuyến quận/huyện; Lãnh đạo hoặc nhân viên: Trung tâm Y tế, Bệnh viện Đa khoa, Trung tâm DS-KHHGĐ huyện/quận; Khoa Sản thuộc Trung tâm Y tế/BVĐK huyện/quận; Lãnh đạo và nhân viên Khoa Chăm sóc SKSS, Trung tâm Y tế huyện/quận; Ban Chỉ đạo DS-KHHGĐ  xã/phường; Trạm trưởng trạm y tế; cán bộ chuyên trách dân số, Cộng tác viên DS.

Nhóm hưởng lợi: Đại diện hộ gia đình (người có tuổi từ 15-60).

Các chuyên gia trong các lĩnh vực DS, CSSKSS: Chuyên gia Nhân khẩu học; Chuyên gia Xã hội học; Các nhà quản lý tiền nhiệm của ngành Dân số; Đại diện Quỹ Dân số Liên hiệp quốc.

3.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2015

3.4. Địa bàn nghiên cứu: Nam Định (Giao Thủy, Vụ Bản), Lào Cai (Sa Pa, Bảo Thắng), Thừa Thiên Huế (Quảng Điền, Phú Vang), Kom Tum (Tp.Kon Tum, Đắc Tô), Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 6, Quận 8), Bến Tre (Mỏ Cầy Bắc, Chợ Lách).

3.5. Phương pháp thu thập thông tin:

- Thu thập thông tin định tính: Phỏng vấn sâu các chính trị gia, các nhà quản lý; nhóm thực hiện chính sách và nhóm hưởng lợi; Thảo luận nhóm Ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ tuyến tỉnh, tuyến huyện, tuyến xã và nhân viên y tế thôn bản/cộng tác viên dân số, đại diện hộ gia đình.

- Thu thập thông tin thứ cấp: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm: 1999; 2009; Điều tra biến động DS-KHHGĐ; Điều tra mức sống dân cư; Niên giám Thống kê y tế; Điều tra Mics; Rà soát các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ từ năm 2011 đến 2015; Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược Dân số giai đoạn 2001-2010; Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010; Báo cáo tổng kết năm về công tác dân số, sức khỏe sinh sản.

- Thu thập số liệu bằng biểu mẫu thống kê: Thu thập các chỉ tiêu sau 5 năm thực hiện mục tiêu Chiến lược Dân số, Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 tại 6 tỉnh/thành phố thuộc địa bàn khảo sát.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Thực trạng triển khai thực hiện các giải pháp 

4.1.1. Giải pháp về lãnh đạo, tổ chức và quản lý

Ban hành văn bản chỉ đạo, điều hành

Tại  Trung ương: Trong 5 năm từ 2011-2015, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Bộ Y tế và một số Bộ, ban, ngành trung ương đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành thực hiện chương trình DS, SKSS, KHHGĐ, góp phần quan trọng vào thành công của công tác DS/SKSS/KHHGĐ của Việt Nam trong 5 năm qua.

Tại các tỉnh, thành phố thuộc địa bàn khảo sát: Có 3/6 tỉnh (Lào Cai, Nạm Định, Thừa Thiên Huế) đã được Tỉnh ủy ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện Chiến lược DSSKSS giai đoạn 2011-2020. Tại 6/6 tỉnh, thành phố đều đã được Ủy ban Nhân dân đã ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện Chiến lược và Sở Y tế, Chi cục Dân số đã ban hành văn bản, kế hoạch hướng dẫn triển khai thực hiện Chiến lược trên địa bàn.

Tổ chức bộ máy làm công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản

Tổ chức bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ: Tuyến Trung ương vẫn duy trì mô hình Tổng cục DS-KHHGĐ thuộc Bộ Y tế. Tại tuyến tỉnh, mô hình tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ tại 63 tỉnh, thành phố trong 5 năm qua không thay đổi, đang thực hiện theo mô hình Chi cục DS-KHHGĐ thuộc Sở Y tế quản lý. Tại tuyến huyện, tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ trong cả nước có một số thay đổi, định hướng thực hiện sáp nhập Trung tâm Dân số huyện và các đơn vị sự nghiệp y tế tuyến huyện thành Trung tâm Y tế huyện đa chức năng. Tại tuyến xã/phường/thị trấn, gần 100% số xã/phường có cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ, nhưng cơ chế quản lý cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã, phường thị trấn theo nhiều phương thức khác nhau.

Tổ chức bộ máy làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản/SKBMTE: Tại tuyến Trung ương, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em không thay đổi. Tại tuyến tỉnh, tổ chức bộ máy làm công tác CSSKSS tại 63 tỉnh, thành phố không có nhiều biến đổi và thực hiện theo mô hình Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản là đơn vị chuyên môn trực thuộc Sở Y tế, nhưng trong vài năm gần đây, thực hiện sáp nhật Trung tâm CSSKSS vào Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tuyến tỉnh. Tại tuyến huyện, hiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ về mô hình tổ chức làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản tuyến huyện do đặc thù từng địa phương. Tại tuyến xã, hơn 95% số xã/phường có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi; 87,4% thôn bản có nhân viên y tế thôn bản. Ở những vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có tỷ lệ sản phụ đẻ tại nhà cao đã triển khai thí điểm loại hình cô đỡ thôn bản nhằm phát hiện và chuyển tuyến kịp thời các trường hợp nguy cơ cao nhằm giảm tai biến sản khoa, giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh. Hệ thống y tế chăm sóc SKSS cũng khá phát triển.

Nhân lực làm công tác DS/SKSS/KHHGĐ

Nhân lực làm công tác Dân số - KHHGĐ: Đều tăng cả về chỉ tiêu biên chế và số cán bộ hiện có thực hiện công tác tại tất cả các tuyến.

Nhân lực làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trung bình mỗi Trung tâm CSSKSS có 25 cán bộ hiện đang làm chuyên môn sản/nhi/YTCC. Tại tuyến huyện, mỗi bệnh viện huyện có 24 cán bộ chuyên môn đang làm việc tại khoa Sản và khoa Nhi (hoặc Ngoại-Sản và Nội-Nhi). Trung bình mỗi bệnh viện tuyến huyện có 1,5 bác sỹ sản, 0,7 bác sỹ nhi và 3,3 bác sỹ đa khoa. Trung bình mỗi TTYT huyện hiện có gần 6 cán bộ chuyên môn đang làm việc tại khoa/đội CSSKSS. Tại tuyến xã, toàn quốc có 7.695 bác sỹ làm việc tại tuyến xã, 599 nữ hộ sinh cao đẳng, đại học, 15.299 YSSN và NHS trung học, 15.184 YS ĐK, 9.693 điều dưỡng trung học trở lên, 3.508/điều dưỡng sơ học và cán bộ khác. Số xã có bác sỹ trên toàn quốc là 7103 xã (66,3%), trong khi số xã có NHS hoặc YSSN là 10324 (98,4%). Tỷ lệ xã có NHS trung học hoặc YSSN là 92,1%.

Công tác kiểm tra, giám sát

Tại Trung ương, kiểm tra, giám sát là hoạt động được triển khai thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, liên tục trong mỗi dự án, đề án, mô hình trong 5 năm qua. Tại các tỉnh /thành phố thuộc địa bàn khảo sát, giám sát trực tiếp là hình thức được nhiều tỉnh/thành phố lựa chọn trong thời gian qua. 

4.1.2. Giải pháp về thông tin, giáo dục, truyền thông chuyển đổi hành vi

Ngày 13/12/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 4669/QĐ-BYT phê duyệt chương trình truyền thông chuyển đổi hành vi về dân số, kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2020. Kênh truyền thông về DS/SKSS/KHHGĐ được triển khai đa dạng, phong phú trên nhiều phương kênh thông tin. Nội dung truyền thông đã mở rộng, đa dạng hơn, mở rộng sang cả các nội dung mà trước đây chưa đề cập. Đối tượng truyền thông cũng đã thay đổi, mở rộng sang các nhóm đối tượng dễ có nguy cơ cao về vấn đề SKSS, khu vực có mức sinh cao, chất lượng dân số thấp như đồng bào dân tộc thiểu số, di cư, công nhân tại các khu công nghiệp.

4.1.3. Giải pháp về Dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản

Mạng lưới cung cấp dịch vụ DS/SKSS ngày một kiện toàn

Cơ sở y tế công lập: Tại tuyến tỉnh có Khoa Sản của Bệnh viện Đa khoa hay Bệnh viện Chuyên khoa sản; Trung tâm Chăm sóc SKSS và Chi cục DS-KHHGĐ. Tại tuyến huyện có Khoa chăm sóc SKSS thuộc Trung tâm Y tế; Khoa Sản thuộc Bệnh viện Đa khoa huyện và Trung tâm DS-KHHGĐ. Tại tuyến xã, khoảng 98,9% xã đã có Trạm Y tế; 95,3% Trạm Y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi. Hầu hết nữ hộ sinh, y sỹ sản nhi tại cơ sở được đào tạo và có kỹ năng cơ bản về DS/KHHGĐ/SKSS theo chuẩn quốc gia, có khả năng thực hiện kỹ thuật đặt/tháo vòng, tiêm thuốc tránh thai. 

Cơ sở y tế ngoài công lập: Cung cấp dịch vụ DS/SKSS/KHHGĐ của cơ sở y tế tư nhân khá đa dạng về loại hình, gồm Phòng khám chuyên sản khoa, Phòng khám đa khoa trong đó có khoa sản/phụ khoa và Bệnh viện Phụ sản/BVĐK tư nhân. 

Chất lượng cấp dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ ngày một cải thiện

Dịch vụ DS-KHHGĐ: Hệ thống các biện pháp tránh thai phi lâm sàng được cung cấp thông qua mạng lưới cộng tác viên dân số/nhân viên y tế thôn bản. Tuy nhiên, trong 5 năm qua, có một tỷ lệ rất nhỏ các cặp vợ chồng thất bại trong sử dụng BPTT phi lâm sàng do sử dụng không đúng cách, hoặc quên không sử dụng trước và trong khi quan hệ tình dục, hạn hữu có trường hợp không biết sử dụng. Đối với BPTT lâm sàng, một số trường hợp vì muốn sinh thêm con hoặc do lao động nặng nên đặt vòng không có hiệu quả.

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản: Hiện chưa có số liệu về tỷ lệ % số ca tai biến và tỷ lệ tử vong trên số sinh theo từng năm, nên chưa khẳng định chất lượng dịch vụ CSSKSS là cao hay thấp mặc dù số ca bị tai biến có tăng trong 5 năm qua.

Tỷ lệ người dân được tiếp cận dịch vụ CSSKSS ngày một cao

Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai: Tỷ lệ % phụ nữ mang thai được khám thai >= 3 lần trong 3 thai kỳ chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ đi khám năm sau luôn cao hơn năm trước.

Số ca sinh có sự trợ giúp của cán bộ chuyên môn: Trên phạm vi cả nước, tỷ lệ phụ nữ đẻ có cán bộ y tế được đào tạo đỡ đã ở Việt Nam luôn duy trì ở mức rất cao.

Tỷ lệ tiêm phòng vắc – xin uốn ván cho phụ nữ có thai: Tỷ lệ này không có sự chênh lệch nhiều giữa các năm, ở mức hơn 95%.

Dịch vụ nâng cao chất lượng dân số ngày càng được mở rộng

Dịch vụ tư vấn khám sức khỏe tiền hôn nhân: Mô hình tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân bắt đầu triển khai từ năm 2003, đến năm 2014 đã triển khai rộng khắp tại 63 tỉnh/thành phố.

Dịch vụ sàng lọc chẩn đoán trước sinh và sơ sinh: Năm 2014, chương trình SLTS&SS được triển khai tại 63 tỉnh/thành phố trong cả nước.

4.1.4. Giải pháp về xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách về dân số, sức khỏe sinh sản

- Chính sách kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

- Chính sách duy trì mức sinh thấp hợp lý

- Các chính sách về sức khỏe sinh sản

4.1.5. Giải pháp về xã hội hóa, phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế

Xã hội hóa dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản

Tại trung ương, tháng 3/2015, Bộ Y tế ban hành Đề án xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai (PTTT) và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản (KHHGĐ/SKSS) tại khu vực thành thị và nông thôn phát triển giai đoạn 2015 - 2020. Tuy nhiên, tại các tỉnh/thành phố, kết quả thực hiện còn hạn chế, do chưa có cơ cấu giá phù hợp, các mặt hàng chưa đa dạng, phong phú, tâm lý người dân chưa sẵn sàng chi trả phí dịch vụ KHHGĐ.

Phối hợp liên ngành

Tại trung ương, hàng năm Tổng cục DS-KHHGĐ, Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em  đã ký kết chương trình phối hợp hoạt động tăng cường công tác DS/SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2011-2015. Tại các địa phương, số lượng các sở, ban, ngành, đoàn thể tham gia vào hoạt động truyền thông có thay đổi theo từng năm và tùy từng địa phương. 

Hợp tác quốc tế

Về lĩnh vực Dân số-KHHGĐ và CSSKSS, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế; ký kết nhiều biên bản ghi nhớ trong lĩnh vực DS,SKSS/KHHGĐ với các quốc gia khác và Triển khai nhiều hoạt động trong khuôn khổ hợp tác với các tổ chức quốc tế.

4.1.6. Giải pháp về đầu tư tài chính

Tại trung ương

Kinh phí thuộc chương trình DS-KHHGĐ: Ngân sách chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ tăng khoảng 15% trong 2 năm (2011-2012), nhưng giảm trong các năm tiếp theo đến 2015. Nguồn kinh phí từ chương trình mục tiêu quốc gia dân số tập trung vào các dự án và đề án gồm: 1) Dự án đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ KHHGĐ; 2) Dự án tầm soát các dị dạng, bệnh, tật bẩm sinh và kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; 3) Đề án kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển. Ngân sách hỗ trợ của các tổ chức quốc tế tuy vẫn được duy trì, tuy nhiên đã giảm rất nhiều trong 5 năm qua..

Kinh phí chương trình Chăm sóc sức khỏe sinh sản: Đầu tư kinh phí cho dự án MTQG về CSSKSS cho đến nay còn rất hạn chế, trong những năm qua mới tập trung vào một số tỉnh miền núi khó khăn, tập trung vào việc đào tạo nâng cao năng lực của cán bộ, chưa nhân có điều kiện nhân rộng các mô hình can thiệp hiệu quả tác động trực tiếp đến người dân.

Cấp tỉnh/thành phố thuộc địa bàn khảo sát

Kinh phí của chương trình DS-KHHGĐ: Nguồn kinh phí của trung ương phân bổ từ chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ cho các tỉnh, thành phố không lớn, giảm qua các năm. Các tỉnh thường phải tự bố trí kinh phí tại chỗ cho chương trình, cá biệt có tỉnh không bố trí ngân sách cho hoạt động này.

Kinh phí của chương trình Chăm sóc sức khỏe sinh sản: Không thống kê được nguồn kinh phí do trung ương phân bổ và địa phương hỗ trợ cho chương trình CSSKSS.

4.1.7. Đào tạo, nghiên cứu khoa học và thông tin số liệu

Công tác đào tạo

Trong lĩnh vực Dân số - KHHGĐ, hàng năm Tổng cục DS-KHHGĐ đều cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo tập huấn. Báo cáo từ các địa phương cũng cho thấy hàng năm Chi cục DS-KHHGĐ đều tổ chức hoặc cử cán bộ đi tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trong lĩnh vực Sức khỏe sinh sản, đào tạo được cả cho các cán bộ trong Vụ và đứng tổ chức được nhiều lớp trong phạm vi cả nước.

Công tác nghiên cứu khoa học

Trong cả lĩnh vực DS-KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe sinh sản, đều đã triển khai được nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học, khảo sát, đánh giá các nhiệm vụ.

Công tác thông tin số liệu

Hệ thống hạ tầng CNTT và các ứng dụng CNTT chuyên ngành được đẩy mạnh triển khai và mở rộng trong toàn ngành.

4.2. Kết quả thực hiện các mục tiêu và chỉ tiêu của Chiến lược  

4.2.1. Kết quả thực hiện mục tiêu 1: “Phấn đấu tốc độ tăng dân số ở mức khoảng 1% vào năm 2015 và ổn định ở mức khoảng 1% vào năm 2020; chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình cao của thế giới vào năm 2020”

- Tỷ lệ tăng dân số ở Việt Nam từ những năm 2011-2015 duy trì từ 1,05 - 1,08%, không đạt mục tiêu đã đề ra.

- Chỉ số phát triển con người (HDI) có xu hướng tăng trong 5 năm qua nhưng vẫn thuộc nhóm trung bình trên thế giới, khó có thể vào nhóm mức trung bình cao của thế giới vào năm 2020.

4.2.2. Kết quả thực hiện mục tiêu 2: “Nâng cao sức khỏe, giảm bệnh, tật và tử vong ở trẻ em, thu hẹp đáng kể sự khác biệt về các chỉ báo sức khỏe trẻ em giữa các vùng, miền”

- Tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể từ năm 2011-2015, còn 22,12%o vào năm 2015.

- Năm 2015, có 17,8% số bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh, đã thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra. 

- Tỷ lệ trẻ em được sàng lọc đạt 30,6% vào năm 2015, đạt được chỉ tiêu đề ra.

4.2.3. Kết quả thực hiện mục tiêu 3: “Nâng cao sức khỏe bà mẹ, thu hẹp đáng kể về các chỉ báo sức khỏe bà mẹ giữa các vùng”

Với những nỗ lực trong việc cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe thai sản, đến năm 2015, tỷ số tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản của cả nước đã giảm xuống còn 58,3.

4.2.4. Kết quả thực hiện mục tiêu 4: “Giảm mạnh tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh”

Mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2015, SRB của Việt Nam được khống chế dưới mức 113 bé trai/100 bé gái, đến năm 2015, tỷ số này giảm xuống còn 112.8 trẻ trai/100 trẻ em gái, đã đạt được mục tiêu đề ra, nhưng không vững chắc. 

4.2.5. Kết quả thực hiện mục tiêu 5: “Duy trì mức sinh thấp hợp lý, đáp ứng đầy đủ nhu cầu KHHGĐ của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản có chất lượng”

- Mục tiêu duy trì mức sinh thấp, hợp lý chúng ta đã đạt được, nhưng mục tiêu số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 1,9 con thì Việt Nam chưa đạt được. 

- Dân số tăng thêm hàng năm có xu hướng chậm lại, đã tác động đến quy mô dân số của Việt Nam trong những năm qua. Tính đến năm 2015, dân số Việt Nam là hơn 91,7 triệu người, đạt được mục tiêu đề ra.

4.2.6. Kết quả thực hiện mục tiêu 6: “Giảm tỷ lệ phá thai, cơ bản loại trừ phá thai không an toàn”

Tính đến năm 2015, tỷ số phát thai/100 trẻ đẻ sống là 16,3/100, đã đạt được chỉ tiêu đề ra.

4.2.7. Kết quả thực hiện mục tiêu 7: “Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư đường sinh sản, chú trọng sàng lọc ung thư đường sinh sản ở phụ nữ trong độ tuổi 30 - 54 tuổi”

- Hiện chưa có số liệu về tỷ lệ người mắc bệnh phụ khoa nên chưa có cơ sở để kết luận được chỉ tiêu này có đạt được mục tiêu đề ra.

- Chưa có số liệu về tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi 30 - 54 tuổi được sàng lọc ung thư cổ tử cung nên chưa có cơ sở để kết luận được chỉ tiêu này có đạt được mục tiêu đề ra.

4.2.8. Kết quả thực hiện mục tiêu 8: “Cải thiện sức khỏe sinh sản của người chưa thành niên và thanh niên”

- Hiện chưa có số liệu chính thức về VTN/TN mang thai ngoài ý muốn mà chỉ có số liệu về tỷ lệ vị thành niên có thai/tổng số có thai. Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ VTN có thai/tổng số có thai có xu hướng giảm sau 5 năm, chỉ còn 2,6% năm 2015.

- Tỷ lệ % phá thai VTN/tổng số phá thai đã giảm từ năm 2011-2015, năm 2011 tỷ lệ % phá thai VTN/tổng số phá thai từ 2,4% và năm 2015 giảm xuống còn 2,2%.

4.2.9. Kết quả thực hiện mục tiêu 9: “Cải thiện sức khỏe sinh sản cho các nhóm dân số đặc thù”

Chưa có số liệu về tỷ lệ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nhóm lao động di cư, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS, nhóm có nguy cơ suy thoái về chất lượng dân số nên chưa có cơ sở để kết luận được các chỉ tiêu này.

4.2.10. Kết quả thực hiện mục tiêu 10: “Tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi”

Chưa có số liệu về tỷ lệ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của người cao tuổi và tỷ lệ người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng, do vậy chưa có cơ sở để kết luận được các chỉ tiêu này.

4.2.11. Kết quả thực hiện mục tiêu 11

- Chính sách di cư đã được xây dựng để thúc đẩy sự phân bố dân cư, lao động giữa các vùng, chiến lược này đã được cụ thể hóa bằng nhiều các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, nhà nước. 

- Việc lồng ghép biến dân số vào xây dựng kế hoạch như giáo dục, y tế, lao động việc làm, định hướng phát triển KT-XH đã được thực hiện trong những năm qua nhưng chưa được triển khai một cách hệ thống, thiếu tài liệu hướng dẫn mang tính pháp quy; cán bộ thiếu kỹ năng tiếp cận lồng ghép các yếu tố dân số và phát triển vào lập kế hoạch.

4.3. Khó khăn, bất cập và thách thức sau 5 năm triển khai thực hiện Chiến lược

- Việc xác định chỉ tiêu của chiến lược chưa dựa vào bằng chứng, nên còn thiếu tính khả thi.

- Những nhiệm vụ, giải pháp về dân số phát triển còn chưa được quan tâm đúng mức.

- Chương trình mục tiêu quốc gia DS - KHHGĐ không còn, ngân sách đầu tư bị cắt giảm, tiến độ phân bổ chậm.

- Mô hình tổ chức của mạng lưới DS - KHHGĐ tuyến cơ sở thường xuyên thay đổi, nhân lực đảm trách hoạt động còn nhiều bất cập cả về số lượng và năng lực chuyên môn, thiếu ổn định nhất là tại các thôn, ấp.

- Vai trò tham mưu của các cơ quan chuyên môn (dân số, y tế) tại nhiều địa phương còn hạn chế, chưa theo kịp với quá trình biến động dân số trong thực tiễn.

- Công tác DS/SKSS/KHHGĐ hiện đang phải đối mặt với nhiều bất cập và thách thức song chưa được điều chỉnh kịp thời bằng các chính sách trong phạm vi toàn quốc cũng như ở từng địa phương. Việc hoạch định chính sách về DS-KHHGĐ còn chậm được đổi mới cả về phương thức xây dựng chính sách cũng như phạm vi tác động.

- Nhu cầu CSSKSS, KHHGĐ của người dân càng đa dạng với yêu cầu ngày càng cao trong khi khả năng đáp ứng của hệ thống y tế còn nhiều bất cập.

- Các địa phương chưa quan tâm đầu tư nguồn lực, chưa thể hiện sự cam kết chính trị mãnh mẽ, chưa chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện các giải pháp phù hợp với bối cảnh thực tế.

- Quá trình biến động dân số trong thực tế đang đặt ra nhiều thách thức mới đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời bằng các chính sách vĩ mô của cả nước cũng như những chính sách đặc thù của mỗi địa phương.

5. Khuyến nghị

Với Chính phủ và các bộ, ngành:

- Chính sách dân số của Việt Nam cần phải chuyển hướng từ chỗ chỉ tập trung vào giảm sinh sang kiểm soát mức sinh, từ DS – KHHGĐ sang dân số phát triển với những định hướng về chính sách dân số toàn diện.

- Kế hoạch hóa gia đình cần tiếp tục được chú trọng với trọng tâm cần ưu tiên cho vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng có mức sinh cao và đa dạng hóa các BPTT phù hợp với nhu cầu sử dụng của người dân trong cộng đồng.

- Tiếp tục tăng cường sự cam kết chính trị thông qua khẳng định vai trò của cấp ủy Đảng, cơ quan trong triển khai thực hiện chính sách DS/SKSS/KHHGĐ.

- Mô hình tổ chức bộ máy làm công tác DS/SKSS/KHHGĐ cần nhanh chóng ổn định tại các tuyến.

- Chính phủ ban hành có chế phân bổ nguồn lực đầu tư cho chương trình mục tiêu y tế - Dân số dựa trên những vấn đề ưu tiên và nguồn thu, khả năng huy động ngân sách tại chỗ của từng địa phương.

- Yêu cầu các tỉnh/TP chú trọng bố trí ngân sách của địa phương, tăng cường xã hội hóa công tác DS/SKSS/KHHGĐ.

Với Bộ Y tế:

- Ban hành văn bản hướng dẫn để các địa phương có căn cứ xây dựng kế hoạch thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược. 

- Cần tổ chức sơ kết 5 năm triển khai thực hiện giai đoạn 1 của Chiến lược, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, có định hướng triển khai các chương trình, đề án, hoạt động.

- Báo cáo chính phủ về việc điều chỉnh một số chỉ tiêu trong Chiến lược.

- Bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp về dân số và phát triển trong hướng dẫn địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược

Với các địa phương:

- Lựa chọn các chỉ báo, chỉ tiêu ưu tiên phù hợp với bối cảnh thực tiến để xây kế hoạch thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược. 

- Phát huy vai trò tham mưu nhạy bén, sang tạo của các cơ quan chuyên môn và huy động sự tham gia của nhiều bên liên quan để định hướng các chỉ tiêu, mục tiêu cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại mỗi tỉnh, thành phố.

- Tùy vào điều kiện thực tế các địa phương phải xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, phù hợp để nâng cao hiệu quả chương trình DS/SKSS/KHHGĐ. 

 

Ngày 15/01/2019
Viện Chiến lược và Chính sách Y tế  
In trangXem & inGửi mailĐầu trangTrở lại
 
Ý kiến của bạn
Họ và tên *
Điện thoại Email :
Địa chỉ *
Nội dung *

 TÁC NGHIỆP
Trang thông tin điện tử Viện chiến lược và chính sách Y tế 
Địa chỉ:Ngõ 196 - Đường Hồ Tùng Mậu - Mai Dịch - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại:84-4-38234167. Fax:84-4-38232448.
Giấy phép thiết lập trang tin điện tử số: 47/GP-BC
do Cục báo chí Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 25/04/2005.