TRANG CHỦTÌM KIẾMSƠ ĐỒ WEBSITELIÊN HỆ
 Thứ hai, Ngày 24 Tháng 04 Năm 2017  [ENGLISH]
  Đang truy cập: 57  
 
1 2 0 5 3 9 4 8
 
 
Các nghiên cứu khoa học
Phát triển BHYT nông thôn công bằng và bền vững nhằm đảm bảo CSSK cho người dân nông thôn: đánh giá kết quả cuối kỳ (2010)

I. Đặt vấn đề

Hệ thống y tế Việt Nam được định hướng là hệ thống dựa trên BHYT nhằm đảm bảo người dân được tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng khi có nhu cầu, đồng thời tạo sự công bằng trong đóng góp tài chính y tế. Luật BHYT đã xác định mục tiêu đạt BHYT toàn dân vào năm 2014. Với hơn 70% dân số sống ở vùng nông thôn, việc mở rộng BHYT ở vùng nông thôn là yếu tố then chốt để đạt mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân. Dự án "Phát triển BHYT nông thôn công bằng và bền vững nhằm đảm bảo CSSK cho người dân nông thôn” được thực hiện nhằm cung cấp các bằng chứng cho xây dựng chính sách phát triển BHYT ở vùng nông thôn. Trong dự án này, một loạt các hoạt động can thiệp đã được thử nghiệm tại hai huyện thuộc tỉnh Hải Dương và Bắc Giang trong vòng 18 tháng. Các hoạt động can thiệp này cần được đánh giá làm cơ sở đề xuất kiến nghị để cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng chính sách phát triển BHYT ở địa bàn nông thôn.  

II. Mục tiêu
Đánh giá tác động của các can thiệp đối với việc phát triển BHYT ở vùng nông thôn.

III. Phương pháp

Nghiên cứu sử dụng thiết kế so sánh trước sau có đối chứng. Tương tự như điều tra cơ bản năm 2006, đánh giá sau can thiệp được tiến hành tại 4 huyện thuộc hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang bao gồm Nam Sách, Chí Linh, Yên Dũng, Việt Yên. Trong đó Nam Sách và Yên Dũng là hai huyện can thiệp. Điều tra được tiến hành từ 1/11 đến 15/12/2008 bao gồm điều tra hộ gia đình, phỏng vấn sâu các đối tượng liên quan, thảo luận nhóm đại diện ban ngành và thảo luận nhóm với người dân trong cộng đồng.  Tổng cộng có 2397 hộ gia đình được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi có cấu trúc, 40 cuộc thảo luận nhóm và 12 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện.

IV. Kết quả

Nghiên cứu đánh giá cho thấy một số phát hiện chủ yếu như sau:
(1) Độ bao phủ  của BHYT năm 2008 tăng lên gần 60% tại các địa bàn nghiên cứu, chủ yếu do mở rộng đối tượng BHYT bắt buộc.
(2) Tỷ lệ người dân tham gia BHYT tự nguyện nhìn chung rất thấp tại tất cả các huyện (6-7%). Việc mở rộng BHYT tự nguyện là một thách thức lớn, nhất là trong bối cảnh diễn ra nhiều thay đổi về chính sách.
(3) Các can thiệp truyền thông đã có hiệu quả làm tăng cường hiểu biết và nhận thức về BHYT của các nhóm đối tượng đích.
(4) Tuy  nhiên người dân nông thôn gặp khó khăn hơn trong tham gia BHYT tự nguyện do mức mệnh giá tăng lên.
(5) Mức độ lựa chọn ngược trong tham gia BHYT tự nguyện có xu hướng ngày càng tăng.
(6)  Người có thẻ BHYT sử dụng dịch vụ y tế cả ngoại trú và nội trú nhiều hơn người không có thẻ BHYT. Tuy nhiên khó đánh giá được tác động của BHYT đối với mức độ sử dụng dịch vụ y tế do yếu tố lựa chọn ngược.
(7) BHYT giúp làm giảm chi phí KCB ngoại trú nhưng không có tác động rõ rệt đối với chi phí khám chữa bệnh nội trú.
(8) Nhìn chung chi phí KCB bình quân và gánh nặng chi phí KCB đối với hộ gia đình năm 2008 đều tăng so với năm 2006.

V. Kiến nghị

Từ kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đề xuất bao gồm:
(1) Cần tăng cường chính sách trợ cấp của nhà nước đối với người dân tham gia BHYT tự nguyện.
(2) Cần tích cực thực hiện các biện pháp kiểm soát gia tăng chi phí  KCB.
(3) Song song với việc mở rộng độ bao phủ của BHYT cần chú trọng việc bảo vệ người tham gia BHYT trước gánh nặng chi phí KCB.

Ngày 03/05/2012
Viện Chiến lược và Chính sách Y tế  
In trangXem & inGửi mailĐầu trangTrở lại
 
Ý kiến của bạn
Họ và tên *
Điện thoại Email :
Địa chỉ *
Nội dung *

 TÁC NGHIỆP
Trang thông tin điện tử Viện chiến lược và chính sách Y tế 
Địa chỉ:Ngõ A36 - Đường Hồ Tùng Mậu - Mai Dịch - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại:84-4-38234167. Fax:84-4-38232448.
Giấy phép thiết lập trang tin điện tử số: 47/GP-BC
do Cục báo chí Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 25/04/2005.