TRANG CHỦTÌM KIẾMSƠ ĐỒ WEBSITELIÊN HỆ
 Thứ hai, Ngày 21 Tháng 01 Năm 2019  [ENGLISH]
  Đang truy cập: 54  
 
1 3 7 6 3 4 3 3
 
 
Các nghiên cứu khoa học Tài chính y tế
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BAN ĐẦU CỦA VIỆC THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN ĐỐI VỚI CUNG ỨNG VÀ CHI TRẢ DỊCH VỤ Y TẾ

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BAN ĐẦU CỦA VIỆC THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN ĐỐI VỚI CUNG ỨNG VÀ CHI TRẢ DỊCH VỤ Y TẾ

 

 

Giới thiệu: Hệ thống bệnh viện công lập được xem như xương sống của hệ thống y tế. Chi tiêu cho các bệnh viện công lập chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi tiêu y tế.Trong tổng chi y tế năm 2005, chi tiêu trong khu vực bệnh viện chiếm 35,8% (Bộ Y tế, Tài khoản y tế quốc gia, 2008). Việc đảm bảo nguồn lực tài chính vànâng cao hiệu quả hoạt động của các bệnh viện là những vấn đề đang được quan tâm hàng đầu. Chính sách giao quyền tự chủ theo NĐ 10/2002/NĐ-CP và sau này là NĐ43/2006/NĐ-CP cho các bệnh viện công lập được hy vọng sẽ làmtăng hiệu quả hoạt động, tiết kiệm chi phí, tăng nguồn thu cho bệnh viện đồng thời nâng cao tính đáp ứng của cơ sở y tế đối với nhu cầu khám chữa bệnh thực tế của địa phương. Việc thực hiện chính sách tự chủ tạo ra những tác động nhất định trong cung ứng, sử dụng và chi trả dịch vụ y tế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tình hình thực hiện tự chủ tài chính tại một số bệnh viện và tác động của việc thực hiện này đối với việc cung ứng và sử dụng dịch vụ y tế. Từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm phát triển hệ thống bệnh viện theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, thiết kế mô phỏng đối chứng – can thiệp được tiến hành tại 4tỉnh bao gồm: Quảng Ninh, Quảng ,Đà Nẵng và Tiền Giang. Ngoài ra nghiên cứu còn được tiến hành tại hai bệnh viện phụ sản tại thànhphố Hà Nội và Hồ Chí Minh.Tại mỗi tỉnh, nghiên cứu tiến hành tại bệnh viện tỉnh và hai bệnh viện huyện, trong đó một bệnh viện có mức độ tự chủ cao hơn bệnh viện kia. Số liệu nghiên cứu được thu thập từ ba nguồn chính: (1) số liệu hồi cứu tại các bệnh viện nghiên cứu được thu thập bằng các biểu mẫu khác nhau về hoạt động chuyên môn, tài chính, nhân lực, đầu tư trang thiết bị; (2) số liệu bệnh án của hai loại bệnh được chọn là mổ đẻ và viêm loét dạ dày tá tràng được thu thập bằng biểu mẫu tại các bệnh viện; (3) số liệu điều tra hộ gia đình thu thập bằng bộ câu hỏi với tổng số 1600 hộ gia đình ; (4) thông tin thu thập được từ thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với các đối tượng liên quan bao gồm các cơ quan quản lý, người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch y tế.

 

Kết quả chính: Quá trình thực hiện tự chủ diễn ra rất phức tạp và không đồng đều tuỳ thuộc vào các yếu tố về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của các địa phương; tuỳ thuộc trình độ nhận thức và kỹ năng tổ chức thực hiện của các bệnh viện. Chưa có các tiêu chí nhất định cũng như lộ trình cho việc giao quyền tự chủ cho bệnh viện. Công tác giám sát, đánh giá chưa được quy định rõ về cơ quan thực hiện cũng như cơ chế cụ thể.Nhìn chung, các bệnh viện chủ yếu tập trung vào nội dung tự chủ về tài chính và tổ chức hoạt động bệnh viện. Việc thực hiện tự chủ đã đem lại những thay đổi khá rõ về tài chính của các bệnh viện tuyến tỉnh đặc biệt là tại các Bệnh viện chuyên khoa Phụ sảntrong khi đối với các bệnh viện tuyến huyện không có sự thay đổi rõ rệt . Nguồn thu từ dịch vụ theo yêu cầu tại các bệnh viện tăng lên khi bệnh viện thực hiện nghị định 10. Tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội, thu từ dịch vụ theo yêu cầu chiếm tỷ trọng khoảng 25% tổng thu của bệnh viện năm 2006. Bệnh viện thực hiện tự chủ càng mạnh thì tỷ trọng của viện phí và BHYT càng tăng trong các nội dung chi chủ yếu, đặc biệt chi cho con người và trang thiết bị, giảm sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Chi hành chính phí có xu hướng giảm đi phản ánh việc thực hiện tiết kiệm chi tại các bệnh viện. Bệnh viện khá tự chủ trong quyết định mức giá dịch vụ theo yêu cầu. Việc thực hiện tự chủ đã tạo sự thay đổi rõ nét về mức độ và phương thức trong đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế tại các bệnh viện, đặc biệt tại các bệnh viện có mức độ tự chủ cao như bệnh viện chuyên khoa Phụ sản, bệnh viện tỉnh lớn. Đầu tư thông qua hình thức liên doanh, liên kết đang trở nên phổ biến. Có những cơ sở bước đầu cho thấy việc đầu tư này có xu hướng tập trung vào lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao, phục vụ nhóm bệnh nhân có khả năng chi trả cao. Quá trình thực hiện tự chủ cho thấy còn một số vấn đề bất cập, vướng mắc liên quan đến tính thiếu đồng bộ trong cơ chế, chính sách như chế độ viện phí, tiền lương, biên chế, BHYT cũng như những điểm chưa phù hợp của nghị định 43. Mặt khác, những thiếu hụt kiến thức, kỹ năng về kinh tế y tế, tài chính y tế, quản trị bệnh viện của đội ngũ cán bộ lãnh đạo bệnh viện… cũng bộc lộ rõ.

 

Việc thực hiện tự chủ có tác động nhất định đối với các chỉ số đầu ra của bệnh viện. Nghiên cứu cho thấy việc thực hiện tự chủcó ảnh hưởng khá rõ rệt đối với sự gia tăng về công suất sử dụng giường bệnh, số lượng xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và thời gian nằm viện bình quân. Trong khi nghiên cứu định tính cho rằng thực hiện tự chủ tại các bệnh viện góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ thuật của các bệnh viện nhưng phân tích định lượng lại không đem lại kết quả hỗ trợ cho nhận định này, thậm chí còn có những số liệu gây băn khoăn như số lượng phẫu thuật không tăng mà lại giảm đi, tỷ lệ chuyển viện tăng lên. Chưa có bằng chứng cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của việc thực hiện tự chủ đối với việc lạm dụng xét nghiệm và thuốc. Thậm chí, các bệnh viện có mức độ tự chủ cao hơn còn có xu hướng sử dụng thuốc ít hơn các bệnh viện có mức tự chủ thấp hơn. Không có mối liên hệ rõ rệt về mức độ tự chủ và mức độ hài lòng của bệnh nhân.

 

Tác động của việc thực hiện tự chủ đối với khả năng tiếp cận, sử dụng và chi trả cho dịch vụ y tế của người dân trong nghiên cứu này chưa rõ rệt. Có cơ sở bước đầu cho thấy giá dịch vụ tại các BV huyện thực hiện tự chủ mạnh hơn có xu hướng tăng cao hơn. Ở một mức độ nhất định việc thực hiện tự chủ của bệnh viện có liên quan tới việc tăng gíá thànhdịch vụ y tế, đặc biệt là đốivới các dịch vụ theo yêu cầu. Nghiên cứu không có được bằng chứng khoa học cho thấy tác động rõ rệt của việc thực hiện tự chủ đối với khả năng tiếp cận vàsử dụng dịch vụ y tế. Tỷ lệ người nghèo được tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế thậm chí còn cao hơn nhóm khác. Thực tế này phản ánh việc thực hiện chính sách BHYT cho người nghèo đã phát huy kết quả tốt.

 

Kết luận: Mặc dù nghiên cứu còn có những hạn chế nhất định song cũng đã cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy những tác động rõ rệt của việc thực hiện tự chủ tài chính bệnh viện đối với hoạt động của các bệnh viện.Từ kết quả nghiên cứu cho thấy việc cần thiết phải hoàn thiện các văn bản pháp lý phù hợp và đồng bộ đối với việc thực hiện cơ chế tự chủ nói riêng vàtài chính nói chung tại các đơn vị ngành y tế. Vai trò quản lý nhà nước đối với việc thực hiện tự chủ tại các bệnh viện cần được tăng cường thông qua việc nghiên cứu ban hành các tiêu chí, điều kiện thực hiện tự chủ cho các đơn vị y tế, tăng cường kiểm tra, giám sát để tránh các vấn đề tiêu cực phát sinh như lạm dụng xét nghiệm, tăng giá dịch vụ, cần xây dựng hệ thống giám sát chất lượng và chi phí dịch vụ bệnh viện. Năng lực quản lý bệnh viện cần được nâng cao đáp ứng yêu cầu của thực tế công việc khi tiến hành tự chủ. Cần tiếp tục tiến hành nghiên cứu về tác động của việc thực hiện tự chủ đối với bệnh việnvà người sử dụng dịch vụ bệnh viện về khía cạnh hiệu quả và công bằng.

Ngày 26/02/2009
Viện Chiến lược và Chính sách Y tế  
In trangXem & inGửi mailĐầu trangTrở lại
 
Ý kiến của bạn
Họ và tên *
Điện thoại Email :
Địa chỉ *
Nội dung *

 TÁC NGHIỆP
Trang thông tin điện tử Viện chiến lược và chính sách Y tế 
Địa chỉ:Ngõ 196 - Đường Hồ Tùng Mậu - Mai Dịch - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại:84-4-38234167. Fax:84-4-38232448.
Giấy phép thiết lập trang tin điện tử số: 47/GP-BC
do Cục báo chí Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 25/04/2005.